Ý Nghĩa Kinh Phổ Môn

6/03/2020

KINH PHỔ MÔN

(Ý nghĩa Cầu an)

 

 Quí Phật tử kính mến!

­  Cứ mỗi lần trong gia đình, hay thân nhân của chúng ta nếu có người tai nan, bênh hoạn, hay sắp sửa đi nơi xa để làm việc, hoặc có ý định mưu cầu một lợi lộc gì, thì có nhiều Phật tử quan niệm: phải tụng kinh Phổ Môn để được sự an lành như ý nguyện; nói nôm na là Cầu an.
­  Kinh Phổ Môn, Đức Bổn Sư Thích Ca đã dạy, cho chúng ta thấy sự linh nghiệm của hai vị Bồ Tát Quán Thế Âm. Mỗi khi chúng ta gặp tai nạn mà thành tâm  khấn niệm danh hiệu của ngài, cũng như lòng từ bi bao la của chư Phật và Bồ Tát Vậy. Ngài cũng vì sự đau khổ của nhân loại nên Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đã dùng Phật lực của Ngài, để ứng hiện thành muôn vạn hình tướng để giải cứu cho những kẻ đang rên la thảm thiết vì bị lọt vào lục đạo luân hồi khổ!
­  Do đó, nên Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát. Vậy nên, ý nghĩa Quán Thế Âm Bồ Tát như thế nào?
-Quán: là quan sát xem xét.
-Thế: là cõi đời.
-Âm: là âm thinh.
Ghép lại Quán Thế Âm là quán sát hiểu biết tất cả tiếng khóc than đau khổ của chúng sanh trong đời.
-Bồ: là Phổ giả( phổ độ).
-Tát: là Tế giả (cứu tế).
­  Cứu giúp quần sanh nên gọi là Bồ Tát.
­  Quan Thế Âm Bồ Tát luôn luôn tìm tòi, xem xét, khi nghe thấy sự đau khổ, rên la của chúng sanh, là Ngài đến ngay, để cứu độ.
Trong Kinh Phổ Môn, Đức Phật Thích Ca dạy: “Hễ ai bị một sự ác, một sự khổ đau nào, thì nên thành tâm niệm ngay danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát là được cứu nguy.
­  Nhưng, chúng ta đừng vì thế, mà quên hẳn bản năng làm Phật, và lòng từ bi quảng bác, trí tự giác và tự cứu nguy sẵn có của chúng ta.
­  Vậy, chúng ta cần chín chắn nhận định lời Phật nói trong kinh Phổ Môn, Ngài ám chỉ để dạy ta những gì?
­  Nghĩa đó cần phải áp dụng “nơi tâm” hay là “nơi thân”. Nếu hiểu bằng cách áp dụng “nơi tâm”, thì rất đúng; vì Đức Phật Thích Ca thường dạy: “Các người tự thắp đuốc mà đi” và Ngài cũng không quên ôn tồn nhắc nhở chúng ta; nên xem Ngài như một vị Giáo Sư chơn lý, chớ không nên thờ kính Ngài như một vị Thần linh, có quyền ban phúc giáng họa.
Trái lại, nếu ta áp dụng “nơi thân” thì hoàn toàn sai lạc với ý của Đức Phật đã nói. Vậy, tác giả xin trích ra một đoạn có bốn câu trong kinh Phổ Môn, để dẫn chứng cho chúng ta, để bàn qua và để tìm hiểu sự hư, thật xem sao.
­  Lời Đức Phật dạy ta như thế nào? Ngài có mâu thuẫn không? Điều đó, theo sự hiểu biết của tôi , thì Đức Phật Ngài hoàn toàn không mâu thuẫn; mà chỉ là một tiếng nói chân thật, để nói lên những lời nói chân thật, và tuyệt đối của Đức Phật.
­  Nhưng trong đó, ta đã hiểu lầm đại ý cao sâu của Ngài. Tại sao tôi dám xác thực như thế? Tại vì tôi tin tưởng lập trường vững chắc của Đức Phật Ngài chủ trương không vọng thuyết? Nếu bảo rằng: Đức Phật chủ trương không vọng thuyết tại sao? Trong kinh Phổ Môn, Đức Phật Ngài nói:

(Giả sử hưng hại ý
Thôi lạc đại hỏa khanh
Niệm bỉ Quan Âm lực
Hỏa khanh biến thành trì)

­  Tạm dịch:

(Nếu có ai khởi tâm hại ta
Định xô ta rớt xuống hầm lửa
Nhờ sức niệm Quán Âm.
Hầm lửa biến thành ao mát mẻ).

­  Nếu giải thích như bốn câu trên, đứng về phương diện thực tế chúng ta thử kinh nghiệm bằng cách tự đưa tay vào lửa. Rồi tự niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm khi đó; nếu ta tự thấy không phỏng tay, thì lời nói của Đức Phật rất đúng. Ngược lại, bị phỏng tay và đau nhức thì Đức Phật hoàn toàn phải chịu trách nhiệm vọng ngôn. Vậy chúng ta có cảm nghĩ gì? Trước đề tài gây cấn ấy. Đẻ vượt qua cơn công phạt giữa chánh pháp đối với sự hiểu biết kém phần sâu rộng của chúng ta?

­  Do đó, tôi tưởng cũng cần có sự tập trung hướng về chơn lý để chúng ta có dịp cùng nhau đi sâu vào giáo pháp căn bản, thêm một tầng nữa bởi vì, “Phật lý ân thâm, phàm tâm nan trắc”. Nghĩa là: ý của Phật cao sâu màu nhiệm, người phàm không thể đo lường được. Phương chi lời của Đức Phật nói: toàn là những câu chơn lý tuyệt đối; mà chúng ta lại căn cứ một mặt nơi văn tự và hiện tượng , thì hoàn toàn bị sai. Bởi chúng ta là kẻ chiến bại, không lên được nấc thang siêu việt trên văn đàn giáo lý.
­  Vậy chúng ta cần mổ xẻ ra hai giải pháp:
­  1) Áp dụng theo cái nghĩa thông thường tương đối như trên đã giải, để cho bậc hạ căn nghe qua hâm mộ tu hành
­  2)Phải giảng cao lên; siêu lý tuyệt đối, cho bậc thượng căn thấu triệt chơn lý, để làm tài liệu tu chứng giải thoát.
­  Điều đó, đã nói lên sự quan trọng, trước lòng từ bi bao la của Đức Phật. Ngài thương chúng sanh như mẹ hiền thương con dại, không chỉ riêng hạng người nào, dầu bậc thượng căn hay hạ trí, Ngài cũng đã tùy cơ duyên thích ứng pháp thậm thâm, cho nhân loại sớm cùng chung giải thoát cho cơn mưa pháp thấm nhuần vạn vật.
Vậy, tác giả xin lần lượt trình bày đại ý tuyệt đối của Phật:

“Giả sử hưng hại ý”

  Nghĩa là: nếu có ai muốn ác ý hại ta, tìm đủ mọi cách gây hấn đối với ta làm cho ta phải nung sôi lên cơn tức giận, khi bị sự đau khổ, vì sân hận; nhơn cái sân hận đó, nó gây tai hại cho tâm ta một trận cuồng loạn sân si không còn biết phải quấy là gì, nên có câu:

“Thôi lạc đại hỏa khanh”

  Nghĩa là: tâm ta bị rơi sâu vào hầm lửa, Giải một cách khác, khi ta mất cả lý trí do: sân hận nổi lên, thì tâm ta đã trở thành hầm lửa:
­  Thực vậy, vì trong lúc ta bị sự kích động mạnh của đối phương chẳng khác nào tâm ta bị sa vào hầm lửa nóng bức. Vậy, ta cần có đủ điều kiện sáng suốt, để tự cứu vớt tâm ta đang trôi dạt trong biển lửa, mênh mông nóng bức khổ đau, vì ngọn lửa sân tràn ngập cả chơn tâm; vậy trước buổi cực kỳ nguy hiểm này, ta cần sáng suốt để điều ngự vọng tâm và không quên liên hồi nhớ đến câu:

“Niệm bỉ Quán Âm lực”

  Nghĩa là: Nhờ sức niệm Quán Thế Âm.
­  Vậy, Quán Thế Âm Bồ Tát, Ngài có thần lực gì?… để giải cứu cho ta, trong lúc ta bị trầm mình trong biển lửa đau thương? Thưa không Đức QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT, Ngài hoàn toàn bất lực, không thể cứu nguy cho ta trong cơn trầm mình (thân) trong lửa đỏ.
­  Nhưng, dưới Thánh hiệu Quán Thế Âm, ngài có công năng giúp cho chơn linh (Tâm) thoát khỏi cơn thử thách của ngọn lửa ác nghiệt nói trên, là khi nào tâm ta ý thức được chí lý chơn thường siêu việt, Thánh hiệu của Ngài. Giả sử như có ai ác ý quyết hại ta, biến ta thành một hầm lửa nóng bức, một địa ngục trần gian. Lúc bấy giờ, ta cần bình tĩnh sáng suốt, để kịp thời ổn định với tình thế nguy nan. Vậy, điều kiện tối cần là phải nhớ đến Thánh hiệu Quán Thế Âm; khi nhớ đến Thánh hiệu Quán Thế Âm, thì tâm ta đã thiên về chánh niệm, tà niệm, vọng niệm tuyệt nhiên phải dứt hẳn, làm gì có việc sân hận xảy ra đáng tiếc! Thế nên Đức Bổn Sư Từ Phụ Ngài dạy: khi ta bị lên cơn sân hận phải mau niệm danh hiệu Quán Thế Âm, vì đây là một phương tiện rất giản dị, nhưng không kém phần cao quý, do sự cảm ứng thiêng liêng của Ngài để làm món trợ duyên trực tiếp cho ta, tự cứu ta trong cơn nguy biến.
­  Quán Thế Âm là: quán xét kỹ lưỡng trong khi ta ở cõi đời ngũ trược này, ta phải đương đầu với bao nhiêu nghịch cảnh; khó khăn trở ngại, cho đến điều nguy hiểm vô biên. Nào là sự kiện chung quanh gây hấn, để thiêu đốt lòng ta. Nào là tâm chúng sanh của chúng ta đang lên cơn tức giận vì ngon lửa sân bừng dậy. Nhưng ta vẫn sáng suốt để dừng bước trước một chiến trường thử thách, để trong cõi lòng được an hòa mát dịu không biến thành hầm lửa hay cảnh giới âm u địa ngục.
­  Như thế mới đáp đúng với câu:

“Niệm bỉ Quán Âm lực
Hỏa khanh biết thành trì”.

  Nhờ sự suy biết và lấy hết năng lực của ta, để quán xét sự sân hận có thể nói rằng: hiện thân của một khám đường, một nhà giam, một hầm lửa chực sẵn, để giam cầm thiêu đốt tâm ta. Bậc Tiên còn sân hận cũng hóa ra phàm; bậc Thánh còn sân hận cũng phải trầm luân vĩ kiếp.
­  Nếu ta hiểu rành mạch như thế, thì ta phải mau hoán cải cái lò lửa sân hận trong đời sống thực tại của ta, biến thành ao nước thanh lương mát mẻ trong tâm của ta. Nói đến đây, cái vai tuồng quan trọng của lò lửa và ao nước được tỏ rõ. Sân hận có chấp là chúng sanh: là lò lửa nóng bức. Từ Bi Hỷ Xả là Phật, là ao nước mát mẻ an vui.
­  Vậy, ta cũng nên dùng chữ Từ Bi, để giải tỏa những nỗi thương tâm của lòng sân hận trong lớp sống phàm phu. Đó là “tự lực cánh sinh” . nghĩa là: Tự ta làm sống lại đời ta, để ban vui, cứu khổ cho ta; chớ ngoài ra không ai có quyền ban vui, cứu khổ cho ta được cả.
­  Nói thế, không có nghĩa là đả phá sự linh cảm của Đức Quán Thế Âm nhưng ở đây tác giả nói lên lời cao thượng của Phật đã nói, và khuyên làm những việc tự giác Phật đã làm.Tóm lại, tự ta cứu ta còn hơn, còn chư vị Bồ Tát chỉ là trợ duyên phụ giúp cho ta trong cơn nguy biến, mà ta đã đặt trọn vẹn lành, để khẩn nguyện ơn trên trợ giúp.
­  Nhưng… ta cần lưu ý rằng: những việc nguy biến đó, hoàn toàn không phải do ác ý của ta gây ra trong kiếp nàyhay từ bao kiếp trước , thì sự khẩn cầu của ta mới được đáp ứng của chư Phật.
Để làm sáng nghĩa câu nói trên, thì đây là một bằng chúng cụ thể: mỗi ngày, chúng ta tung kinh, cầu Phật, Bồ Tát ban ơn lành, nhưng chính trong tâm của chúng ta hàm chứa hai mặt: một mặt cầu Phật độ bên ngoài một mặt vẫn giữ thái độ ích kỷ hiểm sâu, đầy tội lỗi bên trong.
­  Vậy, liệu sự cầu nguyện kia của ta có kết quả theo ý muốn không? Nhất định là không, vì chúng ta chỉ cầu chư Phật, Bồ Tát ban ơn lành, mà trong lúc tham, sân, si của ta chưa đoạn dứt, đang bị nghiệp cảm che phủ, đầy cát bụi bẩn thỉu của màng vô minh dày đặc tội lỗi.
Xin thí dụ để bổ túc vào sự giải thích trên cho được trọn nghĩa: Đức Phật thí dụ: như nước trong, chúng sanh thí dụ: như cái bình dơ, cái bình dơ mà ta muốn chứa cho kỳ được nước trong, dầu cho nước trong đến đâu, mà đổ vào bình dơ ấy, thì nước trong kia vẫn không bao giờ còn trong được. Vì thế chúng ta cần chùi rửa cái bình cho thật sạch, trước khi chứa nước trong.
Vậy, nếu chúng sanh muốn được sự an lành, thì điều kiện tối cần là tâm ta phải được thanh tịnh và an lành trước hết.
Nên có câu: “Tâm an, cảnh tịnh, tâm an cảnh”.
Những buổi cầu an ở Chùa hay tư gia, cốt yếu để nhắc nhở cho chúng ta ôn lại lời Phật dạy trong kinh và thi hành đúng mức, mới có thể kết thành quả cao đẹp.
Còn sự linh ứng hay không là tùy ở tâm của ta, tạo lành ắt được trợ duyên lành; tạo ác thì đừng mong cầu Phật ban quả phúc.
Nên có câu: “Linh bất linh tại ngã”. Có nghĩa là: Linh hay không tại ta.
Vì thế, Phật bảo chúng ta nên tạo một cái cảnh giới an lành, để được hưởng sự an lành, mà Đức Phật dã dày công vạch sẵn cho chúng ta trong kinh; từ khi bị dày đặc sự đau khổ cho đến lúc được toàn diện sự an lành.
Nếu ngộ nhập bằng cách rõ ràng như trên, thì sự trụng kinh Phổ Môn cầu an mỗi ngày của chúng ta, mới có thể được kết quả mỹ mãn trên hai phương diện thân và tâm. Thân được nhẹ nhàng yên tĩnh, vì ta không bị áp lực nào nhiễu hại, hoặc địa ngục nào giam thân. Do ta, bởi ta không nhận lầm tham, sân, si là tình bạn. Bao giờ cũng ngược đãi, đối với nó, thường xem nó là kẻ thù địch của ta. Tâm được sự an lành và ta tự tìm gặp ao nước mát mẻ sẵn có trong tâm ta, để dập tắt lửa lòng không còn nóng bức. Mà cũng là một nấc thang cao quý để ta tiện bước chân đi về đạo tối thượng Bồ Đề.

 

“Một phương thức cầu an Pháp Thể
Một yếu lý chứng đắc
 Bổn chơn tâm”
Tác Giả : HT. THÍCH TỪ BẠCH

Tin Tức Liên Quan